Công nghệ đồng hành chống COVID-19: Vũ khí đắc lực

BVR&MT – Hàng loạt công nghệ mới đang được các nước sử dụng như những “vũ khí hữu hiệu”, cả trong cuộc chiến chống đại dịch COVID-19, cả trong việc thích ứng với những thay đổi do đại dịch.

Robot được Bahrain chế tạo có khả năng tiêu diệt virus SARS-CoV-2 bằng bức xạ tia cực tím (UV) sóng ngắn. Ảnh: Saudi Gazette/TTXVN

Những bước tiến đột phá của ứng dụng công nghệ trong thời kỳ đại dịch đặt ra câu hỏi, phải chăng COVID-19 đang đẩy thế giới tiến nhanh hơn vào cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với những công nghệ cốt lõi như Dữ liệu lớn (Big Data), Trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), robot thế hệ mới, máy in 3D, xe tự lái, công nghệ nano, vốn đang manh nha diễn ra tại nhiều nước phát triển.

Các chuyên gia nhận định COVID-19 đang định hình lại những nét căn bản của cuộc sống. Dịch bệnh kèm theo các biện pháp phong tỏa, ở nhà chống dịch trở thành chất xúc tác khiến Internet phát triển nhanh hơn. Mạng xã hội giúp mọi người luôn kết nối với cộng đồng và cập nhật thông tin nhanh chóng. Các hoạt động “không tiếp xúc” dựa trên hạ tầng công nghệ sẵn có trở nên sôi động hơn bao giờ hết. Các nhà cung cấp dịch vụ truyền phát video hay nhà sản xuất podcast cũng “tăng tốc” bổ sung thêm băng thông vì lượng người dùng tăng đột biến.

Trong cuộc chiến chống COVID-19, việc ứng dụng công nghệ hiệu quả đã trở thành một trong những yếu tố giúp nhiều quốc gia có thể khống chế được dịch bệnh. Công nghệ được ứng dụng nhằm ngăn chặn sự lây lan của virus, chăm sóc các bệnh nhân và giảm áp lực cho hệ thống y tế. Công nghệ hỗ trợ giới chức y tế đưa ra quyết định. Trí tuệ nhân tạo, robot và máy bay không người lái được triển khai để giúp theo dõi nguồn bệnh và thực thi các nỗ lực hạn chế dịch bệnh. Giới khoa học cũng ứng dụng công nghệ để nghiên cứu cơ chế lây nhiễm và phương pháp điều trị COVID-19, phát triển vaccine phòng bệnh. Theo các chuyên gia, trong cuộc chiến chống lại đại dịch chưa từng có này, 5 ứng dụng công nghệ gồm theo dõi dịch bệnh bằng kỹ thuật số, khám chữa bệnh từ xa, AI, công nghệ in 3D và và công nghệ thực tế ảo được đánh giá là rất hữu ích cho ngành y.

Công nghệ hiện đại giúp việc giám sát, theo dõi, cách ly và kiểm soát dịch trở nên dễ dàng hơn nhiều. Việc áp dụng công nghệ vào giám sát, truy vết đã giúp Hàn Quốc trở thành một trong những quốc gia xác định và đánh giá tình hình dịch bệnh chính xác nhất thế giới. Hàn Quốc đã thông qua các giao dịch thanh toán, dữ liệu định vị trên điện thoại và các camera an ninh CCTV để thiết lập một hệ thống bản đồ truy vết những người mắc hoặc có liên quan tới các ca mắc, từ đó nhanh chóng tiến hành xét nghiệm và khoanh vùng dịch.

Hiệu quả của việc áp dụng Big Data giúp theo dõi và dự đoán rủi ro lây nhiễm kết hợp với sàng lọc quy mô lớn tại sân bay cũng được chứng minh tại vùng lãnh thổ Đài Loan (Trung Quốc). Trong khi đó, chính quyền Hong Kong (Trung Quốc) lại sử dụng vòng tay có kết nối với một ứng dụng trên điện thoại di động nhằm kiểm soát các trường hợp đang trong diện cách ly theo dõi. Nếu những người này tự ý rời khỏi khu vực cách ly, thiết bị sẽ tự động gửi thông báo tới cơ quan chức năng, Singapore đã triển khai ứng dụng có tên TraceTogether. Bằng việc sử dụng tín hiệu Bluetooth trên điện thoại thông minh, TraceTogether sẽ phát hiện những người có tiếp xúc gần với người mang mầm bệnh.

Công nghệ khám chữa bệnh từ xa được ứng dụng không chỉ giảm nguy cơ lây nhiễm mà còn tiết kiệm thời gian, giúp các bác sĩ tập trung chăm sóc các trường hợp khẩn cấp. Tại Mỹ, nhiều hãng áp dụng kỹ thuật này thành công như Amwell, PlushCare hay HeyDoctor, Everlywell.

Tại Việt Nam, nền tảng hỗ trợ tư vấn khám chữa bệnh từ xa, giúp triển khai đồng loạt hệ thống khám chữa bệnh từ xa tại hàng nghìn bệnh viện và cơ sở y tế mà không cần phải phát triển từ đầu, và ứng dụng Bluezone bảo vệ cộng đồng, phòng chống COVID-19 là hai ví dụ điển hình về sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ như một vũ khí hiệu quả trong cuộc chiến với virus SARS-CoV-2. Nền tảng hỗ trợ tư vấn khám chữa bệnh từ xa, do Viettel phát triển đáp ứng đầy đủ 6 lĩnh vực khám chữa bệnh từ xa gồm tư vấn y tế, hội chẩn tư vấn khám chữa bệnh; hội chẩn tư vấn chẩn đoán hình ảnh; hội chẩn tư vấn giải phẫu bện; hội chẩn tư vấn phẫu thuật; đào tạo chuyển giao kỹ thuật khám chữa bệnh. Trong giai đoạn tiếp theo, khi phổ cập công nghệ 5G tại Việt Nam với khả năng kết nối vạn vật và xử lý thời gian thực, nền tảng sẽ còn phát triển khả năng phẫu thuật từ xa.

Với ứng dụng Bluezone, người dân có thể cài ứng dụng này trên điện thoại nhằm bảo vệ mình và cộng đồng, góp phần ngăn chặn sự lây lan của virus. Đây là những sản phẩm công nghệ hết sức có ý nghĩa trong việc thúc đẩy tiến trình chuyển đổi số trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam AI cũng được sử dụng phổ biến. Tại Pháp, nhiều bệnh viện sử dụng công nghệ này để rút ngắn thời gian xét nghiệm cho bệnh nhân và tính toán nguy cơ lây nhiễm trong bối cảnh thiếu nhân lực. Trung Quốc, nơi dịch COVID-19 bùng phát đầu tiên, cũng nhanh chóng đưa AI vào thực tế, cụ thể là trong các biện pháp hạn chế đi lại, dự báo quá trình phát triển của dịch bệnh hay nghiên cứu phát triển vaccine điều trị. AI còn được áp dụng để đẩy nhanh quá trình giải mã gen, chẩn đoán, thực hiện quét phân tích dữ liệu, đôi khi là đưa vào trong các robot vận chuyển.

Tại Mỹ, Nhà Trắng đã đề nghị các công ty công nghệ và nhóm nghiên cứu sử dụng công cụ AI để phối hợp hỗ trợ công tác chống dịch, trong đó có việc sàng lọc, phân tích hơn 29.000 trang tài liệu về virus corona chủng mới nhằm tìm ra được cách khắc chế. Bệnh viện đa khoa Tampa ở Florida, Mỹ, với sự hỗ trợ của AI, đã sử dụng một phần mềm có khả năng thực hiện quét khuôn mặt để xác định bệnh nhân bị sốt, nhờ đó có thể giảm 75% nguy cơ lây nhiễm trong bệnh viện. Công nghệ AI đã được giới khoa học Australia ứng dụng để phát triển thành công một công cụ chẩn đoán hình ảnh, cho phép nhân viên y tế xác định chính xác người mắc COVID-19 thông qua phương pháp phân tích hình ảnh chụp cộng hưởng từ (CT) phổi của bệnh nhân. Với kết quả nhận được sau khoảng một giờ, công nghệ này sẽ thay thế bác sĩ X-quang, cung cấp những phân tích cần thiết trong tình huống có quá nhiều bệnh nhân và không đủ nhân viên y tế, để xác định chính xác tổn thương phổi do virus SARS-CoV-2 gây ra.

Nhờ khả tăng tạo ra sản phẩm trong thời gian ngắn, công nghệ in 3D nhanh chóng được sử dụng để sản xuất vật tư y tế thiết yếu. Trong giai đoạn dịch COVID-19 bùng phát mạnh tại Italy, thiết bị van khuếch tán, một bộ phận quan trọng của máy trợ thở được sản xuất nhờ công nghệ in 3D đã giúp cứu sống nhiều bệnh nhân. Tây Ban Nha cũng đã sản xuất thành công máy trợ thở đạt đủ tiêu chuẩn chất lượng với chi phí thấp bằng công nghệ in 3D. Các máy in 3D có thể sản xuất tới 300 máy trợ thở mỗi ngày.

Công nghệ thực tế ảo được xem là trợ thủ đắc lực cho nhân viên y tế tuyến đầu. Theo một nghiên cứu công bố trên tạp chí Harvard Business Review, các bác sĩ phẫu thuật được đào tạo với thực tế ảo có thể đạt hiệu quả công việc cao hơn so với người được đào tạo bằng các phương pháp truyền thống. Nhờ công nghệ thực tế ảo, các bác sĩ có được lựa chọn tốt hơn và giảm bớt các triệu chứng rối loạn tâm lý sau sang chấn thường gặp đối với các các nhân viên y tế làm việc ở tuyến đầu, những người phải chăm sóc các bệnh nhân COVID-19 nặng và làm việc trong môi trường khắc nghiệt.

Công nghệ đặc biệt hỗ trợ các nhà khoa học trong cuộc đua tìm kiếm vaccine, từ việc xây dựng hệ thống nuôi cấy trong phòng thí nghiệm, phân lập, giải mã bộ gen và tới tìm hiểu cặn kẽ cấu trúc phân tử của virus.

Trên thực tế, trước đại dịch, các công nghệ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã là một lĩnh vực nghiên cứu bùng nổ. Cụ thể, công nghệ học sâu (Deep learning) đã cho kết quả ấn tượng trong phân tích ảnh y khoa giúp xác định các bệnh như ung thư vú và ung thư phổi hoặc bệnh tăng nhãn áp, ít nhất là độ chính xác. Các nghiên cứu cũng cho thấy tiềm năng của việc sử dụng thị giác máy tính để trông nom người già và bệnh nhân tại các cơ sở chăm sóc đặc biệt. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều trở ngại trong việc đưa những nghiên cứu này vào thực tiễn. Đơn cử như quan ngại về quyền riêng tư khiến việc thu thập đủ dữ liệu cho các thuật toán đào tạo trở nên khó khăn trong khi các cơ quan quản lý cũng thận trọng khi cấp phép phát triển các công nghệ này.

Sự xuất hiện của COVID-19 đã thay đổi điều đó. Nói cách khác, đại dịch đã buộc các cơ quan chức năng “mở cửa” cho việc áp dụng nhiều hơn công nghệ trong chăm sóc sức khỏe. Đơn cử như AI, ngoài tốc độ đánh giá nhanh và độ chính xác cao, một điều nữa có thể khuyến khích các bệnh viện áp dụng AI trong đại dịch: đó là chuẩn bị cho tình huống thiếu hụt nhân viên y tế.

Cơ hội cũng mở ra cho các tập đoàn công nghệ trong giai đoạn dịch bệnh. Hàng chục công ty phát triển công nghệ AI đã tích cực nghiên cứu phần mềm mới hoặc sửa chữa những thiết bị có sẵn, giới thiệu hàng loạt sản phẩm ứng dụng AI để phòng chống dịch. Tháng 3/2020, các doanh nghiệp công nghệ Mỹ ở Thung lũng Silicon đã thành lập Nhóm công nghệ và nghiên cứu (Technology and Research Task Force) để phối hợp phát triển các ứng dụng phục vụ công tác phòng chống dịch. Công nghệ cũng mang lại “vận may” cho các nhà cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh từ xa. Số lượng đăng ký dịch vụ khám bệnh của KRY International, một công ty Thụy Điển, tăng tới 200% trong thời kỳ dịch bệnh.

Chuyên gia Andrew Keen, tác giả nhiều cuốn sách về công nghệ số, nhận định thế giới số đang phát triển mạnh và chúng ta đang sống sót qua đại dịch này nhờ vào công nghệ. Giải pháp trực tuyến đã cho thấy hiệu quả cao trong đại dịch, và công nghệ đang trở thành trợ thủ đắc lực của con người, kể cả trong phòng chống dịch lẫn trong thích ứng với thế giới mới hậu COVID-19. Mọi người đang ngồi trong nhà và nhìn ra thế giới bằng chiếc smartphone, bởi vậy mà trong thế giới sau đại dịch, công nghệ sẽ được ứng dụng phổ biến hơn nữa nhằm hỗ trợ cuộc sống con người.