Nam Định: Nước sạch cho người dân chưa thực sự được đảm bảo!

BVR&MT – Hiện nay, thống kê theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế trên địa bàn tỉnh Nam Định có 48% hộ dân được sử dụng nước sạch, 94% hộ dân sử dụng nước đảm bảo vệ sinh”; nguồn cung cấp nước sạch phần lớn từ 13 nhà máy cấp nước tập trung với công suất trên 1000 m3 nước/ngày đêm, tổng vốn đầu tư xây dựng mỗi nhà máy nước lên đến cả trăm tỷ đồng. Tuy nhiên chất lượng thực sự của nước sạch nông thôn ở Nam Định liệu có đảm bảo?

Người dân đang sử dụng nước sạch như nào

Theo tìm hiểu, hiện nay tỉnh Nam Định có khoảng 57 cơ sở đang cung cấp nước sạch (nước sinh hoạt) cho người dân, trong đó có ít nhất là 13 công trình cấp nước tập trung.

Tuy nhiên, vấn đề về chất lượng sản phẩm nước sạch ở địa phương này lại là một vấn đề còn đang gây nhiều tranh luận. Một trong những bất cập đầu tiên nhìn thấy đó chính là nguồn nước được lấy trước khi xử lý ở các nhà máy. Những nguồn nước này được các cơ sở xây dựng dự án dùng bởi nước từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm cả những sông lớn và nguồn nước từ sông nhỏ, kênh thủy lợi nội đồng.

Nước sau khi được lấy về nhà máy sẽ qua hệ thống xử lý và phương pháp làm việc riêng của mỗi cơ sở, sau đó được đưa đến sinh hoạt của người dân sử dụng. Trong quá trình giám sát và đảm bảo cho chất lượng của nước sau xử lý, có rất nhiều những yêu cầu khắt khe nhằm đảm bảo an toàn cho sức khỏe. Một trong những điều kiện bắt buộc đó là việc thực hiện theo các điểm được quy định trong Quy chuẩn Việt Nam: QCVN 01:20009/BYT.

   Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh Môi trường Nông thôn tỉnh Nam Định.

Thế nhưng trên thực tế ở tỉnh Nam Định, những việc này cũng chỉ ở mức độ A của CVN 01, còn B và C trong bộ quy chuẩn này thì gần như là chưa thực hiện nên các chỉ số về kim loại nặng, thuốc trừ sâu từ nội đồng thoát ra và các độc tố khác vẫn chưa xét nghiệm được. Khi phát hiện những chỉ số vượt ngưỡng cho phép ở mức độ A thì báo hoặc tư vấn cho người vận hành hoặc cán bộ kỹ thuật của nhà máy, trạm nước sạch điều chỉnh sao cho nước đảm bảo chất lượng.

Chất lượng nước chưa đủ các quy chuẩn

Theo quy định, chất lượng nước sạch (nước sinh hoạt) đang được áp dụng theo các quy chuẩn trong Quy chuẩn Việt Nam: QCVN 01:20009/BYT. Quy chuẩn quốc gia về chất lượng nước ăn uống do Cục Y tế dự phòng và môi trường biên soạn và được Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành theo Thông tư số: 04/2009/TT-BYT ngày 17/6/2009.

Bản QCVN 01 có tất cả 108 danh mục các chất bắt buộc phải kiểm tra định kỳ và giới hạn cho phép đối với từng danh mục. Các danh mục này lại được chia ra làm 3 loại mức độ giám sát A, B, C. Trong mục 1,2,3 phần III của bản Quy chuẩn ghi rõ chế độ giám sát chất lượng nước:

Giám sát trước khi đưa nguồn nước vào sử dụng. Bắt buộc các đơn vị phải xét nghiệm tất cả các chỉ tiêu thuộc mức độ A, B, C do cơ sở cung cấp nước thực hiện. Đối với các chỉ tiêu thuộc mức độ A (15 chỉ tiêu). Xét nghiệm ít nhất 01 lần/tuần do cơ sở cung cấp nước thực hiện; Kiểm tra, giám sát, xét nghiệm ít nhất 01 lần/tháng do các cơ quan có thẩm quyền thực hiện.
Đối với các chỉ tiêu thuộc mức độ B (16 chỉ tiêu): Xét nghiệm ít nhất 01 lần/06 tháng do cơ sở cung cấp nước thực hiện; Kiểm tra, giám sát, xét nghiệm ít nhất 01 lần/06 tháng do cơ quan có thẩm quyền thực hiện.

Đối với chỉ tiêu thuộc mức độ C (77 chỉ tiêu) xét nghiệm ít nhất 01 lần/02 năm do cơ sở cung cấp nước thực hiện; Kiểm tra, giám sát, xét nghiệm ít nhất 01 lần/02 năm do cơ quan có thẩm quyền thực hiện.

Đối với việc giám sát đột xuất khi kết quả kiểm tra vệ sinh nguồn nước hoặc điều tra dịch tễ cho thấy nguồn nước có nguy cơ ô nhiễm; Khi xảy ra sự cố môi trường có thể ảnh hưởng đến chất lượng vệ sinh nguồn nước; Khi có các yêu cầu đặc biệt khác.

Trao đổi về nội dung này, phóng viên Bảo vệ Rừng và Môi Trường đã có buổi làm việc với ông Nguyễn Văn Phi – Phó phòng Kĩ thuật & Kiểm nghiệm của Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh Môi trường Nông thôn Nam Định (Trung tâm Nước sạch &VSMTNT).

Ông Nguyễn Văn Phi – Phó phòng Kĩ thuật & Kiểm nghiệm của Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh Môi trường Nông thôn Nam Định.

Ông Phi cho biết: Theo quy định thì bắt buộc phải thực hiện việc kiểm tra tất cả những danh mục các chất được nêu trong QCVN 01, nghĩa là 108 danh mục chất theo đúng quy định và lộ trình. Nhưng trên thực tế, Trung tâm Nước sạch & VSMTNT mới chỉ thực hiện được việc kiểm tra được với các chỉ tiêu thuộc mức độ A (nghĩa là 15 chỉ tiêu). Còn lại 93 chỉ tiêu khác thuộc danh mục B, C thì gần như là chưa có nhiều những hoạt động.

Lý giải cho điều này, ông Phi cho rằng vì nguồn kinh phí hoạt động hạn hẹp, không đủ để có thể triển khai thực hiện đầy đù các hoạt động theo quy chuẩn. Ngoài vấn đề về kinh phí, ông Phi cũng cho biết năng lực về trình độ chuyên môn, phương tiện kĩ thuật hạn chế cũng là một trong những lý do dẫn đến việc nguồn nước sạch trên địa bàn tỉnh Nam Định không đảm bảo được đầy đủ 108 chỉ tiêu thuộc các danh mục Quy chuẩn Việt Nam 01.

Từ những điều này, có thể thấy chất lượng nước sinh hoạt (nước sạch) cho người dân trên địa bàn tỉnh Nam Định chưa có nhiều những căn cứ cơ sở để có thể thực sự tin tưởng về sự đảm bảo của chất lượng.

Vậy đâu mới thực sự là nguyên nhân dẫn đến tình trạng này? Tạp chí điện tử Bảo vệ Rừng và Môi trường sẽ tiếp tục tìm hiểu và thông tin tới bạn đọc.

Bài và ảnh: Xuân Thời