Kim Động (Hưng Yên): Vì sao người dân hoang mang sợ ô nhiễm môi trường, lún nhà lở đất?

BVR&MT – Hàng trăm hộ dân rơi vào cảnh hoang mang khi thấy rằng nguồn nước bắt đầu có những dấu hiệu lạ trước một bãi tập kết rác đang trở nên dang dở. Cùng với đó, nhiều những hoạt động của một doanh nghiệp trên địa bàn cũng đặt ra những câu hỏi lớn mà chưa có lời giải đáp.

Tòa soạn Bảo vệ Rừng & Môi trường nhận được đơn thư của nhiều người dân ở thôn Phú Mỹ, xã Đức Hợp, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên phản ánh về việc bãi tập kết rác thải của xã Đức Hợp, đặt trên địa bàn thôn Phú Mỹ đang có dấu hiệu gây ô nhiễm môi trường.

Theo nội dung, đơn thư cho biết, năm 2009 bãi tập kết rác này được UBND xã Đức Hợp triển khai, đưa vào hoạt động. Tuy nhiên chỉ sau khoảng 04 năm, đến năm 2013 bãi rác đã trở nên quá tải, mùi hôi thối bốc lên và ảnh hưởng đến môi trường sống của người dân.

Lúc này, người ta thấy xuất hiện máy ủi, máy xúc của Công ty Cổ phần Xây dựng & Thương mại Thành Phát (sau đây gọi là Công ty Thành Phát) thường xuyên có các hoạt động đào, múc đất và san lấp rác tại khu vực này.

Xuất phát từ nhiều những hoạt động của Công ty Thành Phát trên địa bàn thôn Phú Mỹ, từ đây dư luận bắt đầu xôn xao về những thắc mắc chưa có lời giải đáp.

Trao đổi với phóng viên, người dân thôn Phú Mỹ cho biết, hàng ngày người dân đang phải sống và chịu cảnh ô nhiễm môi trường của bãi tập kết rác, cùng với đó là hoạt động khai thác đất của Công ty Thành Phát đang làm thay đổi hiện trạng đất đai, hủy hoại bờ kè sông Hồng. Cuộc sống của người dân bị đảo lộn, môi trường thì ô nhiễm, nước sinh hoạt vẩn đục bất thường, đường đất có nơi sắp bị lở, lún gây hoang mang khi mùa mưa bão đến gần.

Người dân cho biết, từ khi có bãi rác lộ thiên xuất hiện, hàng trăm hộ dân phải sống trong môi trường xú uế, mùi khét nồng nặc mỗi khi rác bị đem ra đốt. Trước đây, bãi rác có tường bao, bên dưới được trải vật liệu chống thấm, tuy nhiên sau một thời gian thì tường bao bị đổ vỡ, chất lượng chống thấm không đảm bảo, khi rác phân hủy đã ngấm vào mạch nước ngầm, ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân dẫn đến tình trạng ngày càng nhiều người bị mắc bệnh hiểm nghèo.

Đối với hoạt động khai thác đất làm vật liệu sản xuất gạch của Công ty Thành Phát, người dân cũng “tố” rằng công ty này đã hoạt động không đúng với những gì được cấp phép. Cụ thể, trong giấy phép khai thác khoáng sản số 1509/GP-UBND của UBND tỉnh Hưng Yên cấp cho Công ty Thành Phát ngày 17/8/2012 nêu rõ cho phép công ty này khai thác đất sét tại xã Đức Hợp. Tuy nhiên, người dân thôn Phú Mỹ khẳng định, diện tích 55.392m2 đất đang được Thành Phát khai thác làm vật liệu thuộc loại đất màu, đất phù sa chứ hoàn toàn không phải là đất sét như trong giấy phép nêu.

Cũng trong giấy phép này, UBND tỉnh Hưng Yên quy định trữ lượng khai thác là 166.176m3, chiều sâu khai thác tối đa là 3,0 m trong thời hạn 7,5 năm. Tuy nhiên trên thực tế, người dân thôn Phú Mỹ khẳng định rằng, nhiều chỗ bị Công ty Thành Phát đã múc đất với độ sâu lên đến 5 – 6 m, thậm chí có những nơi còn sâu hơn nữa.

Chưa hết, trong nội dung đơn thư, người dân còn bức xúc phản ánh việc hoạt động của Công ty Thành Phát đã và đang tác động khiến bờ kè sông Hồng và đập tràn phân lũ tại xã này bị ảnh hưởng.

Để làm rõ những nội dung này, phóng viên Bảo vệ Rừng & Môi trường đã có buổi làm việc với ông Trần Văn Sáng – Phó Chủ tịch UBND xã Đức Hợp.

Đối với việc ảnh hưởng của bãi rác đến nguồn nước sinh hoạt, và môi trường sống của dân, ông Sáng cho rằng: “Nếu như chủ quan thì nó là có ảnh hưởng, nhưng thực chất nó bị ảnh hưởng thế nào thì phải có cơ sở khoa học”.

Trả lời về câu hỏi hoạt động của Công ty Thành Phát có ảnh hưởng đến đập tràn phân lũ của xã không, ông Sáng cho biết, một phần của hệ thống này nằm trong khuôn viên của Thành Phát, đã được xây dựng hệ thống cống cao trên 01 m, rộng trên 01m và khi xã có hoạt động xả lũ thì công ty này phải có trách nhiệm khơi thông dòng chảy.

Đối với phần diện tích đất đang giao cho đơn vị này thuê để khai thác đất, ông Sáng cũng khẳng định đây là đất công điền, được quy hoạch và được phép chuyển đổi mục đích sử dụng, và cho Thành Phát thuê là đúng quy định của pháp luật.

Riêng đối với nội dung Công ty Thành Phát đang khai thác đất có đúng với quy định trong giấy phép không, thì ông Sáng thừa nhận rằng diện tích ấy không hề có đất sét mà chỉ có đất thịt, đất màu.

Tuy phân tích về khái niệm đất sét, đất á sét, nhưng bản thân ông Sáng cũng cho rằng nội dung của giấy phép không rõ cho khái niệm ngôn ngữ. Chính vì thế việc Thành Phát đang khai thác đất có đúng hay không cũng khó có thể lý giải.

Để khách quan những nội dung phản ánh, nhóm phóng viên cũng đã liên hệ làm việc với ông Nguyễn Văn Thụ – giám đốc Công ty Thành Phát. Trả lời về những nội dung người dân khiếu nại, ông Thụ phủ nhận hoàn toàn dư luận cho rằng hoạt động khai thác đất của công ty làm ảnh hưởng đến việc lở đất, lún sụt nhà dân và đường đi. Tuy nhiên, ông Thụ cũng thừa nhận, trong quá trình múc đất lấy vật liệu, cũng có những nơi công nhân điều khiển máy đã múc đất sâu hơn so với quy định cho phép.

Trao đổi về việc đang khai thác loại đất nào, có đúng với giấy phép hay không, ông Thụ cũng nhận rằng khái niệm viết trong giấy phép đa nghĩa và khó xác định. Khi tiếp nhận giấy phép này, ông cũng đã thắc mắc với cơ quan chức năng nhưng nhận được câu trả lời rằng cứ việc khai thác, và những giấy phép khác khi được cấp cũng đều ghi như vậy.

Từ nội dung này, kể cả đại diện lãnh đạo địa phương xã Đức Hợp, giám đốc Công ty Thành Phát đều nhận rằng không thể xác định được việc họ khai thác đất đã đúng hay chưa. Chỉ biết là họ đã được cấp phép khai thác, còn nếu có sai thì cái sai ở đây là do cơ quan cấp phép ấy, nghĩa là UBND tỉnh Hưng Yên.

Trên thực tế, dư luận trong nhân dân thôn Phú Mỹ đang thể hiện sự hoang mang lo lắng. Đó là nỗi lo về ảnh hưởng môi trường đến đời sống, đến không khí và nguồn nước sinh hoạt. Là sự lo sợ khi thấy nhiều phần diện tích đất có dấu hiệu nguy cơ của sự lún sụt ngay gần với khu vực dân cư, thậm chí là có hiện tượng nứt ở trên tường nhà.

Đối với hoạt động khai thác đất đang được thực hiện bởi Công ty Thành Phát, thì những nghi ngờ về sự tuân thủ giấy phép, sự hợp pháp của loại đất, và đặc biệt sự ảnh hưởng đến công trình kè sông Hồng và đập tràn phân lũ vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng. Tất cả đều cần có những cơ sở khoa học, những kết luận khảo sát, quan trắc mới có thể đưa ra kết luận cuối cùng.

Đã đến lúc các cơ quan chức năng liên quan cần nhanh chóng vào cuộc để có những căn cứ, giải quyết nỗi hoang mang lo lắng cho người dân và gỡ nút hoài nghi của dư luận. Riêng đối với UBND tỉnh Hưng Yên, có lẽ đơn vị này cần xem lại khái niệm thế nào là đất sét(?!).

Chúng tôi sẽ tiếp tục tìm hiểu và thông tin về nội dung này!

Thiên Thảo – Mai Ngọc